Kỹ thuật nuôi Cá thát lát

Cá thát lát

Kỹ thuật nuôi Cá thát lát

Cá thát lát (Notopterus notopterus)

Cá thát lát (Notopterus notopterus)

Cá Thát Lát (Notopterus; tên khác: cá phát lát) loài cá xương nước ngọt, thuộc họ Cá thát lát (Notopteridae). Thân rất dẹt, đuôi rất nhỏ, toàn than phủ vảy nhỏ; đường bên chạy giữa thân, tương đối lớn. Miệng tương đối to, mõm ngắn bằng, rạch miệng kéo dài đến trước ổ mắt. Vây hậu môn liền với vây đuôi. Cá xám ở lưng, trắng bạc ở bụng, phía dưới viền xương nắp mang màu vàng. Cỡ cá nhỏ, con lớn nhất dài 400mm, nặng 500g, trung bình 100-200g. Ăn tạp. Sau 1 năm tuổi, thân dài đến 165mm, nặng 200g, bắt đầu sinh sản, mùa đẻ tháng 5-7, trứng bám vào đá được cá đực bảo vệ; cá bố mẹ thường dùng đuôi khuấy nước, tạo điều kiện cho trứng hô hấp. Phân bố ở Ấn Độ, Thái Lan, Đông Dương; ở Việt Nam, tập trung chủ yếu ỏ vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng sông Đồng Nai và các tỉnh miền Trung. Sản lượng khai thác tự nhiên khá cao, có thể đánh cá quanh năm. Thịt ngon, một số địa phương nuôi cá thát lát ở ao, ruộng đạt kết qủa tốt.

(Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp)

Cá thát lát

Cá thát lát


 Kỹ thuật sản xuất giống nuôi cá thát lát

(Notopterus notopterus Pallas)

Nuôi vỗ Cá Thát Lát bố mẹ

Chọn cá bố mẹ: Cá mập, khỏe mạnh, không dị hình, có trọng lượng lớn hơn 100g/con và chiều dài tối thiểu 18cm.

Cá đực: phần chót đầu gai sinh dục nhọn, khi thành thục mình cá thon, dài.

Cá cái: phần chót đầu gai sinh dục tù, khi thành thục mình cá to nhô ra hai bên hông.

Ao nuôi vỗ có diện tích từ 100-500m vuông, diện tích lớn khó quản lý, đánh bắt khi cá thành thục. Bờ ao không hang mội, nền đáy ít bùn, có cống cấp thoát nước.

Ao nuôi vỗ phải chủ động  cấp thoát nước, do tính ăn của cá là động vật có thể làm môi trường bị nhiễm bẩn. Có thể áp dụng hình thức cho sinh sản bằng kích thích sinh thái, chiều sâu cột nước từ 1-1,2m.

Trước khi đưa cá vào nuôi vỗ phải cải tạo ao bằng các biện pháp thông thường. Sau khi cho nước vào ao, có thể chất chà hoặc thả bèo lục bình ở góc ao, tạo điều kiện cho cá ẩn nấp vào ban ngày, tiện cho việc đánh bắt cá cho sinh sản cũng như cho cá ăn vào ban ngày. Mật độ thả nuôi vỗ 0,5kg/m vuông.

Cá thát lát

Cá thát lát

Thức ăn cho Cá Thát Lát: có thể sử dụng 2 loại thức ăn là tươi sống và chế biến.

Đối với thức ăn tươi sống: có thể sử dụng tôm, cá nhỏ còn sống hay đã chết. Nếu thức ăn là cá tép nhỏ còn sống, thả cùng với cá bố mẹ, cá thát lát sẽ bắt ăn dần. Thức ăn đã chết, bằm nhỏ đặt vào sàn cho cá ăn.

Thức ăn chế biến: gồm 50% cám + 50% bột cá. Thức ăn được kết dính bằng bột gòn, vò thành viên và đặt trong sàn cho cá ăn.

Khẩu phần: 3-5% trọng lượng đàn/ngày.

Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng cho cá ăn bằng 1/5 khẩu phần cá ăn trong ngày và chiều, chiều cho ăn phần còn lại (4/5). Ban ngày nên cho cá ăn gần vị trí cá ẩn nấp.

Chăm sóc Cá Thát Lát: Định kỳ 10 ngày thay nước lần, mỗi lần thay 1/3 lượng nước trong ao. Trường hợp cho các ăn bằng thức ăn còn sống, môi trường ít bị nhiễm bẫn, có thể 1 tháng thay nước/lần hoặc cấp nước mới khi lượng nước trong ao giảm do thất thoát. Sau  2 tháng nuôi vỗ định kỳ kiểm tra để xác định thời gian cho cá sinh sản.

Kỹ thuật cho Cá Thát Lát đẻ

1. Sinh sản tự nhiên trong ao:

Điều kiện ao: Phải chủ động cấp thoát nước, nền đáy ít bùn và có giá thể (lá cây, rơm, cỏ khô…).

Thời điểm cho cá sinh sản: Cá có tập tính sinh sản vào đầu mùa mưa và kết thúc sinh sản vào cuối mùa mưa. Khi kiểm tra xác định cá thành thục chọn hai con nước cường trong tháng cho cá sinh sản. Khi cho cá sinh sản, mỡ cống cho nước ra vô tự do, nước mới sẽ kích thích cá sinh sản. Khi cho cá ngưng sinh sản thì đóng cống lại, sau đó tiếp tục nuôi vỗ bình thường.

Tập tính sinh sản: Cá đẻ trứng dính vào giá thể được đặt trong các hố nhỏ ở đáy ao có đường kính khoảng 0,3-0,4m vuông, sâu 0,1m; vị trí tổ các sinh sản nằm gần bờ ao. Sau khi sinh sản xong cá đực giữ tổ. Mỗi ngày vào sáng sớm hay chiều mát, kiểm tra đáy ao, chú ý những nơi gần cống hoặc những nơi có ít bùn.

Thu trứng: nhặt hết giá thể có trứng bám, cho vào xô hoặc thau có nước sạch, vận chuyển về khu ấp trứng có dòng chảy nhẹ đi qua, kết hợp thay nước với sục khí.

2. Sinh sản nhân tạo:

Chọn Cá Thát Lát bố mẹ:

- Cá đực: chủ yếu chọn ngoại hình có mình thon, dài, gai sinh dục màu hồng.

- Cá cái: chọn cá có ngoại hình bụng to nhô ra hai bên hông, khi dùng tay sờ thấy mềm đều, gai sinh dục màu hồng.

Kích dục tố và liều sử dụng: Có thể sử dụng các loại kích dục tố sau:

- HCG: 4000-6000 IU/kg cá cái

-LH- RHa: 150-200 µg+ 1 viên dom/kg cá cái.

- Cá đực tiêm 1/2 liều cá cái.

Tiêm ở góc vi lưng hoặc góc vi ngực. Tiêm 2 liều, liều sơ bộ cách liều quyết định 12-24 giờ. Cá đực chỉ tiêm 1 liều. TRong điều kiện nhiệtđộ 28-30 độ C, thời gian hiệu ứng 24 giờ.

Thụ tinh: Sau khi kiểm tra  trứng rụng, tiến hành cho thụ tinh bằng hình thức sau bằng cách:

Vuốt trứng từ 5-10 con vào thau nhỏ, mổ bụng cá đực lấy tinh sào (5 con cái/ 1 con đực) cho vào thau chứa trứng. Đảo trộn 2-5 phút, cho nước cất vào vừa ngập trứng, tiếp tục đảo trộn cắt nghiền nhỏ trong cối, trộn đều với trứng bằng lông gà, sau đó mang đi ấp.

Bể ấp có diện tích 2-4m vuông, vệ sinh sạch trước khi sử dụng.

Ấp trứng:

- Khử dính: cho trứng vào dung dịch tanin với nồng độ 1-1,5‰; đảo đều 2-3 giây, đổ bỏ dung dịch tanin, cho nước sạch vào rửa 2-3 lần, sau đó mang trứng đi ấp.

- Không khử dính: trứng sau khi thụ tinh cho bám vào khung lưới và cho vào bể ấp.

Mật độ ấp nếu dùng phễu, bình weis: 4.000-5.000 trứng/ lít; còn dùng khung lưới: 1.000-1,500/dm vuông.

Trong thời gian ấp trứng ngăn ngừa sự phát triển của nấm, mỗi ngày tắm trứng 1 lần bằng vertmalachite với nồng độ 1-1,5ppm. Trong điều kiện nhiệt độ 27-30 độ C, trứng nở 4-5 ngày sau khi đẻ. Sau khi cá nở 3-4 ngày chuyển cá đi ương.

Ương Cá Thát Lát từ bột lên giống

Cá thát lát có thể ương trong ao đất hoặc bể ximăng. Trước khi đưa vào ương, phương tiện ương phải được cải tạo hoặc vệ sinh. Do cá có tập tính ẩn nấp vào ban ngày, nên thả bèo lục bình trên mặt nước áo hay gạch ngói trong bể ximăng cho cá trú ẩn. Mật độ ương 200con/ m vuông.

Thức ăn: 7 ngày đầu cho ăn động vật phù du (Moina), ngày thứ 8 về sau cho ăn trùn chỉ hoặc thức ăn hỗn hợp gồm cá (30%) + bột cá (70%). Khẩu phần 100g/ vạn con/ngày và tăng dần theo nhu cầu bắt mồi của cá, thức ăn được nấu chín và đặt trong sàn. Cho các ăn 2 lần/ngày (sáng 1/5, chiều 4/5), ban ngày thức ăn đặt gần nơi cá ẩn nấp.

Nuôi Cá Thát Lát thịt

Sau khi cải tạo từ 3-5 ngày cho nước mới vào ao tiến hành thả cá nuôi. Kích thước cá nuôi từ 4-6cm. Mật độ 6-10 con/m vuông, có thể thả ghép với các loài cá khác cùng cỡ nhưng không cùng tính ăn.

Thức ăn: có thể cho cá ăn các loại thức ăn tươi sống như cá tép vụn băm nhỏ hay cá – tép nhỏ còn sống thả vào ao cho cá ăn dần. Hoặc cho cá ăn thức ăn chế biến gồm 30% bột cá và 70% cám, kết dính cho vào sàn ăn.

Chăm sóc: Hàng ngày theo dõi tình hình bắt mồi của cá để tăng hoặc giảm lượng thức ăn cho hợp lý, định kỳ cấp nước mới cho ao hoặc cho nước ra vô theo thủy triều. Cá nuôi sau 1 năm trọng lượng đạt từ 80-150g/con.

ThS. Nguyễn Thành Trung – Trần Ngọc Nguyên – Đặc san Nuôi trồng thủy hải sản – báo Khoa học phổ thông.


Ương nuôi và cho sinh sản cá thát lát

Kỹ thuật sinh sản: Chọn cá bố mẹ có chiều dài bình quân 18cm, mạnh khỏe, không xây xát. Cá cái có bụng to, sờ thấy bụng mềm đều, gai sinh dục màu hồng. Một kilôgam cá bố mẹ khoảng 8 con, cho khoảng 1.800 – 2.000 trứng.

- Kích dục tố sử dụng thường là các loại như HCG, LRH-A và não thùy cá chép, cá mè, có tác dụng gây rụng trứng với liều tiêm thích hợp. Liều tiêm cá đực bằng 1/2 cho cá cái. Sau hai ngày chích kích thích tố cá sẽ đẻ. Có thể cho cá đẻ tự nhiên bằng cách đưa vào bể xi măng hoặc ao có mức nước 0,8 – 1m.

Đối với ao có lớp bùn dày 5-10cm, tổ cho cá đẻ là giá sơ dừa, rơm đặt cố định ở cạnh ao, nơi yên tĩnh. Tạo dòng chảy hoặc phun mưa kích thích cá đẻ. Với sinh sản nhân tạo có thể vuốt trứng rồi phối giống với cá đực, một cá đực có thể phối giống với 6 cá cái.

- Ấp trứng trong thau hoặc bể xi măng, sục khí hoặc tạo dòng chảy cho phôi phát triển. Sau bốn ngày cá nở. Khi cá tiêu hết noãn hoàng, đem lên nơi ương. Sau 45 ngày tuổi cá đạt chiều dài 3 – 4m.

Ương thành cá hương: Bể ương có diện tích 5-10m2, chiều sâu cột nước 0,4-0,6m, không cần mái che. Mật độ 300 – 500 con/m2. Sau khi cá hết noãn hoàng 7 ngày đầu cho cá ăn trứng luộc hòa nước với lượng 200ml/vạn con/ngày, ngày thứ 8 cho ăn trùn (lưu ý chỉ cho giun đỏ sống trong bùn) với lượng 150-250g/vạn con/ngày. Sau 30 ngày chuyển xuống ao nuôi cá thịt.

Thời gian nuôi vỗ cá thịt:Cá thát lát có đặc tính chui rúc tìm nơi trú ẩn và nơi có thực vật thủy sinh phát triển, vì vậy ao, mương , ruộng nuôi phải không có hang hốc, sụt lở, bờ ao chắc chắn. Đáy ao phẳng, có lớp bùn dày 10 – 20cm, mức nước cao 1 – 1,5m, ở ruộng nuôi có mức nước 0,5m. Ruộng phải có mương bao hay đìa làm nơi cá trú khi rút nước trên ruộng. Nên chất chà làm nơi cho cá ẩn.

Mật độ thả: Ở ao 6-8 con/m2, ở ruộng 1 con/m2. Có thể nuôi ghép các loại cá như: Cá chép, mè, rô phi v.v… với cá thát lát. Tỷ lệ ghép 10 – 20% tổng đàn cá.

Chăm sóc: Có thể tận dụng nguồn thức ăn sẵn có như cua, ốc, cá tạp, tép, phế phẩm động vật… Lượng thức ăn bằng 2 – 5% trọng lượng tổng đàn. Hàng ngày theo dõi để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Thu hoạch: Sau 10-12 tháng nuôi đúng quy trình kỹ thuật thì cá sẽ đạt 70 – 80g/con. Hiện nay cá thát lát là mặt hàng rất được ưa chuộng trên thị trường, cả nội địa lẫn xuất khẩu.

NNVN, 15/6/2004


Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá thát lác

(Notopterus notopterus)

Cũng như một số loài cá giá trị thương phẩm trên thị trường luôn cao như cá lóc (Channa striata), cá trê vàng (Clarias marcocephalus), cá rô đồng (Anabas testudineus), cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis), cá thát lác (Notopterus notopterus) có phẩm chất thịt ngon, khi chế biến được mọi người ưa thích. Giá cá nguyên con dao động từ 20.000 – 30.000 đồng/kg, thịt cá làm chả có giá từ 45.000 – 60.000 đồng/kg.

Bảng1 : Liều lượng chất kích thích dùng trong thí nghiệm

TN Loại CKT Tổng liều CKT ( /kg cá cái)
1 LH – RHa + DOM 80 microgam + 10 mg
2 HCG 9.000 IU
3 Não thuỳ 8 mg
4 Não thuỳ + HCG 2 mg + 6.000 IU

Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ của người dân đối với cá thát lác gia tăng. Ðây là một trong những nguyên nhân góp phần tạo thêm sự khai thác quá mức làm cho nguồn sản lượng cá ngoài tự nhiên giảm sút nghiêm trọng, kích cỡ cá thương phẩm nhỏ dần. Do đó, nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá thát lác, ương nuôi cá thương phẩm là việc làm thiết thực. Từ đó, có thể cung cấp giống, chuyển giao công nghệ cho người nuôi, bảo vệ phần nào nguồn lợi thuỷ sản nói chung, cá thát lác nói riêng.

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo Cá Thát Lát

Nuôi vỗ Cá Thát Lát bố mẹ

Cá bố mẹ được nuôi trong ao đất (300m2/ao), độ sâu mực nước từ 1,2m – 1,4m. Mật độ nuôi vỗ : 0,5 kg/m2 đối với cá cái và 1 kg/m2 đối với cá đực với hai công thức thức ăn khác nhau tương ứng với hai thí nghiệm (TN) : TN I : 70% cám + 30% bột cá; TN II : 70% cám + 30% cá tươi xay nhuyễn.

Ðể đảm bảo các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển tuyến sinh dục tương đối đồng nhất giữa hai TN, ao ngăn ra làm hai, mỗi ngăn cho một TN.

Hầuhết cá được chọn nuôi đều có tuyến sinh dục đang ở giai đoạn II. Sau hai tháng nuôi, định kỳ một tháng kiểm tra sự thành thục của cá một lần.

Như vậy, có thể nói rằng chất lượng thức ăn đã tác động mạnh đến sự phát triển tuyến sinh dục của cá thát lác. TN II (70% cám + 30% cá tươi) đã đáp ứng tốt về nhu cầu dinh dưỡng của cá hơn là TN I (70% cám + 30% bột cá).

Bảng 2 : Tỷ lệ thành thục (TLTT) của cá thát lác cái ở hai thí nghiệm

Tháng TN Số cá nuôi vỗ (con) Số cá thành thục (con)   Giai đoạn thành thục TLTT(%)
4 1 450 0 III 0
2 450 0 III 0
5 1 450 56 IVe 12,44
2 450 125 IVe 27,77
6 1 450 250 IVe 55,55
2 450 365 IVe 81,11
6 1 450 300 IVe 66,66
2 450 420 IVe 99,33

Chuẩn bị bể đẻ cho Cá Thát Lát  

- Bể đẻ : bể được vệ sinh sạch sẽ, sau đó cho nước vào, độ sâu mực nước từ 60 – 80 cm, diện tích bể 3m x 2m. Nước sử dụng cho cá đẻ, ấp trứng và ương nuôi là nước mưa và nước ngầm được chứa trong ao lắng.

- Giá thể : sử dụng xơ dừa đan lại thành từng tấm hình chữ nhật dài khoảng 6 cm, ngang 5 cm và khung sắt hình vuông phủ vải bố bên ngoài hoặc hình trụ dài có mặt cắt tam giác. Giá thể được đặt trong góc của bể. Trên mặt bể phủ bèo lục bình để tránh cá hoảng sợ.

Chọn cá bố mẹ cho sinh sản  

- Cá cái : thân không bị sây sát, không dị hình, khoẻ mạnh. Bụng cá phình to, gai sinh dục sưng và đầu mút hơi ửng hồng, da bụng mỏng.

- Cá đực : chọn tương tự như cá cái nhưng gai sinh dục dài và nhọn.

Hình thức cho cá thát lác sinh sản  

Ðể có được hình thức tốt nhất áp dụng cho cá thát lác sinh sản, hai hình thức được bố trí thử nghiệm :

- Bố trí cho sinh sản tự nhiên : sau khi tiêm CKT, thả cá vào bể có đặt sẵn giá thể và phủ bèo lục bình trên mặt, cho dòng nước chảy nhẹ và liên tục đến khi kết thúc quá trình sinh sản để tạo thêm sự hưng phấn đối với cá. Tỷ lệ cá đực cái bố trí cho đẻ là 1/1.

- Gieo tinh nhân tạo : cũng giống như hình thức trên, cá sau khi được tiêm CKT cho vào bể kích thước nước liên tục nhưng không đặt giá thể và bèo. Theo dõi và kiểm tra phát hiện trứng rụng đồng loạt, tiến hành giải phẫu lấy buồng tinh cá đực, vuốt trứng vào thau nhỏ và áp dụng gieo tinh bán khô. Tỷ lệ cá đực cái tham gia sinh sản : 1/2 – 1/3. Khi trứng đã được cho thụ tinh xong, khử tính dính của chúng bằng dung dịch urê và tananh.

Kết quả cho cá thát lác sinh sản  

Trong sinh sản nhân tạo, không phải loài cá nào cũng phát huy tác dụng tốt như nhau với bất kỳ CKT sinh sản nào mà chỉ ở vài loại. Do đó, ba loại CKT sinh sản : HCG, LH – RHa kết hợp với DOM và não thuỳ đã được thí nghiệm tiêm cho cá thát lác sinh sản.

* Kết quả cho cá thác lát sinh sản

Bốn TN đã được thử nghiệm tương ứng với bốn công thức về liều lượng CKT sinh sản khác nhau. Mỗi TN lặp lại hai lần kèm theo có sự kích thích nước.

Qua bốn TN đã được bố trí, kết quả của TN I tốt nhất, kế đến là TN III, tiếp theo TN IV, sau cùng là TN II (Bảng 3 và Hình 1). Hay nói cách khác, đối với cá thát lác CKT sinh sản như LH – RHa kết hợp với DOM, não thuỳ là phù hợp với đặc tính sinh lý của chúng nên đã phát huy tốt hiệu quả kích dục.

* Kết quả gieo tinh nhân tạo cá thát lác :

Cũng như hình thức bố trí cho đẻ tự nhiên, trong gieo tinh nhân tạo thì TN I với loại CKT được chọn là LH – RHa + DOM vẫn là TN tốt nhất, kế tiếp là TN III (KDT não thuỳ) rồi đến TN IV (não thuỳ kết hợp HCG); cuối cùng TN II (HCG) (Bảng 4 và Hình 2).

Bảng3. Liều lượng CKT sinhsản, thời gian hiệu ứng, tỷ lệ sinh sản của cá thát lác

(Bố trí cho sinh sản tự nhiên)

TN Số cá cái (con) Loại CKT sinh sản Liều lượng (/kg cá cái) T.gian hiệu ứng (giờ) Tỷ lệ sinh sản (%) Nhiệt độ nước (oC)
1 24 LH – RHa 80microgam + 22 100 29 – 30
20 + DOM 10 mg 26 100 28 – 29
2 16 HCG 9000 IU 30 50 28 – 29
24 32 58,33 28 – 29
3 12 Não thuỳ 8 mg 24 66,66 28 – 29
16 22 87,50 28 – 29
4 20 Não thuỳ 2 mg + 25 60 28 – 29
12 + HCG 6000 IU 24 66,66 29 – 30

Hình 1. Tỷ lệ sinh sản qua hai đợt bố trí cho sinh sản tự nhiên

-

Hình 2. Tỷ lệ sinh sản qua hai đợt  gieotinh nhân tạo

 -

Bảng 4. Thời gian hiệu ứng và tỷ lệ sinh sản của cá thát lác (Gieo tinh nhân tạo)

TN Số cá cái (con) Loại CKT sinh sản Liều lượng (/kg cá cái) T.gian hiệu ứng (giờ) Tỷ lệ sinh sản (%) Nhiệt độ nước (oC)
1 12 LH – RHa 80microgam + 24 100 29 – 30
8 + DOM 10 mg 26 100 28 – 29
2 8 HCG 9000 IU 34 25 28 – 29
8 32 50 28 – 29
3 12 Não thuỳ 8 mg 26 66,66 28 – 29
8 22 100 28 – 29
4 8 Não thuỳ 2 mg + 28 75 28 – 29
8 + HCG 6000 IU 27 50 29 – 30

Tóm lại, qua kết quả thu được từ hai hình thức sinh sản có thể thấy rằng LH – RHa + DOM vẫn cho kết quả kích dục cao nhất đối với cá thát lác.

Kết quả ấp trứng

Việc ấp trứng cá thát lác được tiến hành song song hai hình thức :

- Hình thức bố trí cho sinh sản tự nhiên : sau khi quá trình sinh sản kết thúc, với cá bố mẹ ra kiểm tra và đem nuôi vỗ trở lại; giá thể được mang ấp trong bể bạt cho nước chảy liên tục.

- Hình thức gieo tinh nhân tạo : áp dụng ấp trứng trong bình weis. Trước khi ấp, trứng được khử tính dính bằng phương pháp carbamide.

ấp trứng

Kết quả ấp trứng cho thấy thời gian phát triển phôi của cá thát lác giữa hai hình thức ấp trứng chênh lệch nhau rất lớn (92 – 126 giờ của bể bạt so với : 58 – 98 giờ của bình weis) (Bảng 4 và 5).

Sự khác biệt về thời gian phát triển phôi giữa hai hình thức ấp trứng có thể do một số nguyên nhân như sau : nhiệt độ và ánh sáng. Nhiệt độ nước trong hệ thống bình weis được làm bằng thuỷ tinh nên ánh sáng mặt trời chiếu vào môi trường nước ấp trứng rất lớn, mặc dù nhà ấp trứng có mái che. Trong khi đó, bể bạt đã nhận một lượng ánh sáng rất ít.

Tỷ lệ thụ tinh (TLTT)

Trong nghiên cứu này, hình thức gieo tinh nhân tạo đã thu được kết quả về TLTT thấp hơn nhiều so với hình thức bố trí cho sinh sản tự nhiên. Có lẽ do khi vuốt trứng cá cái, một số trứng chưa sẵn sàng thụ tinh cũng rụng nên dẫn đến TLTT thấp. Hơn nữa, về khía cạnh sinh thái thì hình thức bố trí cho sinh sản tự nhiên tương tự với việc cá bố mẹ tự bắt cặp sinh sản nên đã thu được TLTT cao hơn.

Bảng 4. Kết quả ấp trứng cá thát lác bằng bể bạt 

TN Nhiệt độ nước (oC) TLTT (%) TLN (%) Thời gian nở (giờ) Nhận xét
1 29 – 30 80 10 126 Nấm thuỷ mi nhiều
92 70 112 Nấm thuỷ mi ít
2 29 – 30 33,33 35,71 120 Nấm thuỷ mi ít
28,84 53,33 112 Nấm thuỷ mi ít
3 30 – 31 70 60 92 Nấm thuỷ mi ít
80 50 96 Nấm thuỷ mi ít
4 29 – 30 60 58 112 Nấm thuỷ mi ít
30 – 31 75 62 94 Nấm thuỷ mi ít

Bảng 5. Kết quả ấp trứng cá thát lác bằng bình weis

TN Nhiệt độ nước (oC) TLTT (%) TLN (%) Thời gian nở (giờ) Nhận xét
1 31 – 32 50 44 58 Cá dị hình nhiều
30 – 31 60 40 70 Cá dị hình ít
2 30 – 31 40 30 72 Cá dị hình nhiều
30 – 32 35 25 68 Cá dị hình nhiều
3 30 – 31 30 44 75 Cá dị hình ít
45 35 74 Cá dị hình ít
4 29 – 30 25,36 44,95 98 Cá dị hình ít
30 – 31 29,79 40 76 Cá dị hình ít

Bảng6. Tỷ lệ sống của cá thát lác sau khi tiêu hết noãn hoàng

TLS(%) Nhiệtđộ nước (oC) Sốcá mới nở (con) Số cá tiêu hết noãn hoàng (con) TLS(%) Thờigian tiêu hết noãn hoàng (giờ)
26/6 28 – 29 4.830 4.590 95,03 90
1/7 29 – 30 800 768 96 80
8/7 30 – 31 1.920 1.824 95 70
15/7 30 – 31 1.674 1.620 96,69 72

Tỷ lệ nở Cá Thát Lát

Nhìn chung, trong thí nghiệm này, hình thức ấp trứng bằng bể bạt cho kết quả tốt hơn là ấp trứng bằng bình weis (Bảng 4 và 5). Cá thát lác mới nở có bọc noãn hoàng rất lớn và có tập tính trú ẩn ở nơi tối nên khi ấp trứng bằng bình weis vì nước chảy liên tục làm cho cá mới nở yếu dần rồi chết. Ðể khắc phục tình trạng này, sau khi cá nở nên chuyển chúng từ bình weis ra bể bạt có dòng chảy nhẹ để chăm sóc.

Tỷ lệ sống (TLS)

TLS là một trong những chỉ tiêu kỹ thuật ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác sản xuất giống thuỷ sản nhân tạo. Kết quả ấp trứng và chăm sóc cá bột cho thấy TLS của cá thát lác đạt giá trị khá cao (95 – 96,69%). Như vậy, có thể cho rằng phôi và cá thát lác mới nở phát triển tốt ở nhiệt độ nước 28 – 31oC (Bảng 6).

Kết luận

Qua kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu rút ra các kết luận sau :

- TN II với công thức thức ăn : 70% cám + 30% cá tươi xay nhuyễn đã đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cá thát lác dẫn đến tỷ lệ thành thục cao (81,11 – 99,33%).

- Hai liều : 80 mg LH – RHa + 10 mg DOM/kg cá cái và 8 mg não thuỳ/kg cá cái có hiệu quả kích dục cao nhất đối với cá thát lác.

- Hình thức bố trí cho sinh sản tự nhiên cho kết quả cao hơn hình thức gieo tinh nhân tạo.

- ấp trứng bằng bể bạt có dòng chảy nhẹ cho tỷ lệ nở (49,88%) cao hơn ấp trứng bằng bình weis (37,87%).

Lê Thị Bình, Ngô Văn Ngọc, Khoa Thuỷ sản, ÐHNL Tp.HCM (Nguồn : KHKT Nông Lâm nghiệp số 1/2003)


KỸ THUẬT NUÔI CÁ THÁT LÁT  

Cá thát lát có phẩm chất thịt ngon, có thể chế biến được nhiều món ăn cao cấp phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.

1. Đặc điểm phân bố : Cá thát lát sống ở các vùng cửa sông, kinh rạch, ao hồ, đồng ruộng,… cá chịu được môi trường nước có hàm lượng oxy và pH thấp, cá có thể sống được ở các đầm nước lợ ven biển. Tất cả các thủy vực ĐBSCL đều có cá thát lát, nhất là các vùng lung bào, trũng.

2. Dinh dưỡng : Là loài ăn tạp thiên về động vật, cá có thể ăn côn trùng, giáp xác nhuyễn thể, cá con, phiêu sinh vật, rể thực vật thủy sinh…

3. Đặc điểm sinh trưởng : Cá tăng trọng thấp một năm tuổi có chiều dài trung bình 16cm, nặng 40-60g/con. Trong ao nuôi cá đạt 100g/con sau 12 tháng nuôi.

4. Kỹ thuật nuôi : Điều kiện ao nuôi : Ao nuôi có kích thước từ 100-400m2 hoặc lớn hơn và ao có hình chữ nhật, bờ ao phải chắc chắn, đáy ao phải bằng phẳng, có cống cấp thoát nước chủ động, nước ao có pH từ 7-8 và oxy hoà tan lớn hơn 3mg/lit, có độ sâu giữ nước từ 0,8-1,2m. Cải tạo ao nuôi :Tát cạn ao, nạo vét ao chừa lớp bùn đáy 15-20cm, vệ sinh sạch cỏ xung quanh ao, lấp các hang hóc, không để có mọi rò rỉ, sau đó bón vôi từ 10-15kg/100m2 và phơi nắng từ 2-3 ngày tiến hành cho nước vào ao qua lưới lọc. Chọn giống thả nuôi: chọn giống có kích cỡ đồng đều không dị hình, khỏe mạnh không xây sát, cá được thả vào ao nuôi lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Mật độ thả nuôi: 5-10 con/m2. Cho Ăn :Cho ăn bằng cá tép vụn băm nhỏ hoặc cá tép còn sống thả vào ao.Có thể cho ăn bằng cám, tấm, trộn bột cá lạt theo tỷ lệ 30% bột cá + 70% tấm cám. Nên cho cá ăn bằng sàn để theo dõi và điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Khẩu phần thức ăn bằng 5-10% trọng lượng cá thả nuôi. Nên cho ăn 2 lần/ngày, do cá hoạt động mạnh vào ban đêm nên cho ăn vào buổi sáng lượng thức ăn =1/3 khẩu phần ăn trong ngày ,buổi chiều = 2/3 trọng lượng khẩu phần ăn trong ngày . Chăm sóc và quản lý : Hằng ngày theo dõi lượng thức ăn để điều chỉnh cho đầy đủ, quan sát hoạt động của cá, định kỳ cấp nước mới cho ao nuôi. Thu hoạch : Cá nuôi một năm đạt từ 80-150g/con lúc này tiến hành thu hoạch. Cá thát lát do bản tính ẩn nấp, chui rúc trong vật bám nên rất khó kéo lưới, cách thu hoạch tốt nhất là tháo bớt nước, kéo lưới thu một số sau đó tát cạn nước mới bắt cá triệt để.

5. Phòng trị bệnh cho cá : Cá khỏe thường tập trung từng đàn, ẩn nấp vào các gía thể, đớp khí mạnh và lặn nhanh . Khi cá bơi tản mạn và ngoi lên mặt nước bơi chậm chạp đó chính là dấu hiệu cá bị bệnh. Cá thát lát thường bị một số bệnh như : – Bệnh nấm thủy mi : da cá xuất hiện vùng trắng xám có những sợi nấm nhỏ mềm, sợi nấm phát triển mạnh đan chéo nhau thành búi như bông có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

* Trị : Tắm cá trong nước muối 2-3% từ 5 đến 10 phút .

- Bệnh ký sinh :Bệnh trùng bánh xe : Da cá màu xám, thân cá có nhiều nhớt màu hơi trắng đục. Trị : Tắm trong nước muối 2-3% từ 5 đến15 phút hoặc CuSO4 nồng độ 2-5ppm thời gian 5 đến 15 phút. hoặc phun trực tiếp CuSO4 nồng độ 0,5 – 0,7 ppm xuống ao.

- Trùng quả dưa ( Đốm trắng ) : Thân cá có nhiều trùng bám thành hạt lấm tấm nhỏ màu trắng đục có thể nhìn bằng mắt thường cá nổi lên mặt nước lờ đờ. Trị: sử dụng CuSO4 phun xuống ao.

Chú ý : Trước khi dùng thuốc trị bệnh cho cá thì nên rút bớt nước trong ao chỉ còn khoảng 1/3 lượng nước, sau đó cho thuốc vào trị.

V.T.N – Chi Cục Thủy sản Vĩnh Long (NN Vĩnh Long)

Xem thêm:

Họ cá trê

Kỹ thuật nuôi cá trê vàng lai

KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRÊ TRONG AO ĐẤT

CÁ TRÊ (Clarias fuscus Lacépede)

Cá rô đồng

CÁ LÓC BÔNG (CÁ BÔNG)

CÁ LÓC BÔNG

Cá rô phi (cá phi)

Cá điêu hồng

Cá thát lát (Notopterus notopterus)

Họ Cá thát lát

Kỹ thuật nuôi Cá thát lát

Xem thêm:

Cải tiến sản xuất giống cá nàng hai

Độc đáo… cá nàng hai

Kinh nghiệm nuôi cá thác lác cườm ở Đồng bằng sông Cửu Long

Nuôi cá nàng hai mùa nước nổi

Vua cá thát lát Đồng Tháp

Kỹ thuật nuôi Cá thát lát

Họ Cá thát lát

Cá thát lát (Notopterus notopterus)

About these ads

9 responses to “Kỹ thuật nuôi Cá thát lát

  1. Pingback: Vua cá thát lát Đồng Tháp | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  2. Pingback: Cải tiến sản xuất giống cá nàng hai | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  3. Pingback: Độc đáo… cá nàng hai | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  4. Pingback: Kinh nghiệm nuôi cá thác lác cườm ở Đồng bằng sông Cửu Long | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  5. Pingback: Nuôi cá nàng hai mùa nước nổi | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  6. Pingback: Cá thát lát (Notopterus notopterus) | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  7. Pingback: Họ Cá thát lát | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s