TÀI LIỆU NUÔI NGHÊU

 TÀI LIỆU NUÔI NGHÊU

I. TỔNG QUAN VỀ ĐẶC SINH HỌC NGHÊU

1. Hình thái cấu tạo và phân loại

nghêu

nghêu

Trong các công trình nghiên cứu trước đây về đặc điểm hình thái, phân loại của động vật Thân Mềm đã mô tả cấu tạo của họ Ngao (Veneridea) cho thấy các loài trong nhóm này ít có sự khác nhau. Như công trình nghiên cứu của Walter (1945) mô tả 3 loài Meretrix lusoria Chem, Meretrix petechialis Lam và Meretrix tripla; Pierre (1952) mô tả một loài Meretrix meretrix (Linnaeus); Anuwat (1995) mô tả hai loài Meretrix lusoria và Meretrix meretrix.

Ngoài các công trình trên chưa có công trình nào mô tả loài nghêu Meretrix lyrata ngoại trừ công trình nghiên cứu của Habe et al., (1966) và Nguyễn Chính (1996), gần đây Trương Quốc Phú (1999) đã mô tả rất kỹ hình thái cấu tạo ngoài của Meretrix lyrata (Sowerby, 1851), cơ thể nghêu được bao bọc bởi hai mảnh vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), vỏ dầy chắc, cạnh trước ngắn hơn (chỉ bằng 2/3 chiều dài cạnh sau), dính chặt nhau bằng một bản lề và góc vỏ có răng khớp rất khít.

Nghêu

Nghêu

Ngoài ra, các chi tiết cấu tạo và hình thái quan trọng khác của nghêu cũng được các nhà nghiên cứu trên mô tả như sau: Hình dạng rất giống ngao dầu, nhưng kích thước nhỏ hơn Nghêu lớn có chiều dài 40-50mm, chiều cao 40-45mm và chiều rộng 30-35mm (Nguyễn Đình Hùng, 2000). Mặt trong vỏ nhẵn trơn, màu trắng, có các vết in của cơ khớp vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước. Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trắng xám hoặc nâu, trên mặt vỏ có nhiều đường gân lồi gần như song song với nhau uốn cong theo miệng vỏ và thưa dần về phía mặt bụng là những vòng sinh trưởng đồng tâm (Kappner and Bieler, 1997). Công trình nghiên cứu mêu tả nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) của Habe et al., (1966) và gần đây là của Nguyễn Chính (1996) như sau:

Ngành thân mềm: Mollusca

Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia

Bộ mang thật: Eulamellibranchia

Bộ phụ: Schzodonta

Phân bộ: Heterodonta

Tổng họ: Veneracea

Họ ngao: Veneridae

Giống ngao: Meretrix

Loài nghêu: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

Tên tiếng Anh: Lyrate Asiatic Hard Clam.

Tên địa phương: nghêu Bến Tre.

Loài nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) đã được Bộ Thủy sản Việt Nam xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam (Nguyễn Thanh Tùng và ctv, 2007).

Về mặt cấu tạo có nhiều tác giả nghiên cứu về hình thái cấu tạo trong lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia) cho thấy cơ bản giống nhau như công trình nghiên cứu của Purchon (1977), Thái Trần Bái (1978) và Quayle & Newkirk (1989) có cấu tạo như hình 2.2.

Con nghêu

Con nghêu

2. Nghêu – Phân bố

Theo nghiên cứu của Nguyễn Chính (1996) cho thấy Nghêu (Meretrix lyrata) phân bố chủ yếu ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam . Ở Việt Nam chúng phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Nam Bộ như: Cần Giờ (Tp.HCM), Gò Công (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú (Bến Tre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) và Cầu Ngang, Duyên Hải của Trà Vinh.

Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996) cho thấy nghêu phân bố ở những vùng có nền đáy cát hay cát bùn trong đó cát phải chiếm từ 60-90% với kích cỡ hạt từ 0,006-0,25 mm. Theo Trương Quốc Phú (1999) thì nghêu phân bố chủ yếu ở vùng trung triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đó bằng phẳng. Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994) cho rằng nghêu phân bố ở vùng thời gian phơi bãi từ 2 – 8 giờ/ngày. Độ sâu cực đại tìm thấy nghêu lúc nước ròng là 2,5 m. Nghêu phân bố ở vùng có nền đáy cát mịn đến cát trung có pha lẫn hàm lượng bùn lỏng và xác hữu cơ (10 – 18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi Nghêu (1,5 – 2,5 cm). Độ mặn đặc trưng cho bãi nghêu dao động từ 7 – 25‰; pH nước 6,5 – 8,5 và nhiệt độ là 26 – 32oC. Theo nghiên cứu của Võ Sĩ Tuấn (1999) ở Gò Công Đông của cho thấy nghêu con tập trung ở độ cao từ khoảng 0,8 – 1,5 m so với số 0 hải đồ .

3. Nghêu – Đặc điểm dinh dưỡng

Các nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phụng và ctv (2001) và Trương Quốc Phú (1999) đều cho thấy nghêu là loài ăn lọc thành phần thức ăn tự nhiên của nghêu là mùn bã và các mảnh vụn hữu cơ lơ lửng trong nước khoảng 75-90%, thực vật phù du chiếm tỷ lệ thấp khoảng 10-25% về số lượng cũng như tần số bắt gặp, chủ yếu là tảo silic (tảo khuê). Theo Trần Thái Bái và ctv., (1978) thì nhóm Bivalvia bắt mồi theo cách lọc nhời hoạt động của các tấm mang trong quá trình hô hấp hút nước qua mang, quá trình bắt mồi diễn ra một cách thụ động, chỉ có những hạt thức ăn có kích thước Phù hợp được chọn lọc Quayle and Newkirk (1989).

Theo Purchon (1977) cho rằng thức ăn giai đoạn ấu trùng của nhóm Bivalvia là vi khuẩn, tảo khuê, mùn bã hữu cơ và nguyên sinh động vật có kích thước nhỏ khoảng 10μm hoặc nhỏ hơn. Theo cứu của Võ Sĩ Tuấn (1999) cho thấy sinh vật phù du hiện diện trong ống tiêu hóa của nghêu chiếm khoảng 10%, trong khi hàm lượng mùn bã hữu cơ chiếm đến 90%. Các giống tảo thường bắt gặp trong ống tiêu hóa của nghêu phải kể đến Coscinodiscus (9loài), Pleurosigma (3 loài), Cyclotella (3 loài), Rhizosolenia (3 loài).

Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994) thì nghêu sinh sản hai kỳ trong năm, thời kỳ đầu vào tháng 3 – 5, thời kỳ thứ 2 vào lúc kết thúc mùa mưa khoảng tháng 10 – 11 hàng năm. Còn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đinh Hùng (2000) mùa sinh sản chính của nghêu từ tháng 5 đến tháng 7 và mùa phụ từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy xuất hiện mùa phụ) với mật độ nghêu giống xuất hiện thấp hơn, tỷ lệ đực/cái trong tự nhiên là 1/1. Theo Trương Quốc Phú (1999), tốc độ sinh trưởng nghêu thay đổi theo mùa: sinh trưởng nhanh vào tháng 5 – tháng 9, sinh trưởng chậm vào tháng 10 – tháng 4 năm sau. Nhân tố chính ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng là độ mặn, sóng gió, hàm lượng chất lơ lửng trong nước.

Nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999) cho rằng sau một năm tuổi nghêu thành thục sinh dục và tham gia sinh sản, kích cỡ thành thục lần đầu khoảng 3,5 cm. Nghêu phân tính đực, cái riêng biệt, một số cá thể nghêu lưỡng tính, tỷ lệ cá thể lưỡng tính thấp, chiếm 6,82% trong quần thể. Các yếu tố môi trường như nồng độ muối, sóng gió và hàm lượng vật chất lơ lửng là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh trưởng của nghêu.

4.Nghêu – Đặc điểm sinh trưởng

Theo nghiên cứu của Gilbert (1973) cho thấy nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý và chi phối sinh trưởng đến nhóm Bivalvia, kích thước tối đa và sinh trưởng giảm, tuổi thọ tăng khi đi từ vĩ độ thấp đến vĩ độ cao. Nhiệt độ càng thấp thì mùa sinh trưởng càng ngắn, vùng nhiệt độ càng thấp thì chúng càng tiêu tốn nhiều năng lượng cho quá trình hô hấp hơn là năng lượng cho sinh trưởng và ngược lại. Điều này được minh chứng bởi Angell (1986) rằng trong điều kiện đầy đủ thức ăn thì tốc độ sinh trưởng nhanh khi nhiệt độ tăng.

Một nghiên cứu khác của McDonald and Thomson (1988) cho thấy quần thể sống ở vùng nước sâu có kích cỡ nhỏ hơn vùng nước nông trong cùng thời gian sinh trưởng. Theo Nguyễn Ngọc Lâm và ctv., (1994) cho rằng khả năng lọc thức ăn của nhóm nghêu có kích thước nhỏ lọc tốt hơn nhóm nghêu có kích thước lớn. Một khía cạnh khác, nghêu là loài có tốc độ sinh trưởng về khối lượng nhanh hơn sinh trưởng về chiều dài (Trương Quốc Phú, 1999). Cũng chính điều này làm cho tốc độ tăng trọng của nghêu trong mùa mưa nhanh hơn mùa khô (Trương Quốc Phú, 2001).

5. Nghêu – Đặc điểm sinh sản

Sinh sản là phương thức bổ sung các cá thê mới cho quần thể sinh vật, đảm bảo sự bảo tồn và phát triển nòi giống. Đối với động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) thường sinh sản và thụ tinh ngoài môi trường nước nên quần thể mới phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường. Theo Chu Chí Thiết (2005) Trứng và tinh trùng phóng ra thụ tinh trong nước; nghêu 1 tuổi có thể thành thục, nhìn bề ngoài không phân được đực cái, nhưng khi tuyến sinh dục thành thục có thể dựa vào màu sắc tuyến sinh dục để phân biệt; nghêu cái có màu vàng nhạt, nghêu đực có màu trắng sữa.

Theo nghiên cứu Lâm Ngọc Châu (2007) cho thấy nghêu đực đã thành thục tốt khi làm vỡ phần mềm ở dưới bụng tinh dịch sẽ chảy ra nhưng ở con cái dù hành thục ở mức độ tốt cũng không có hiện tượng chảy ra. Nghêu lớn có thể sinh sản đến 6 triệu trứng/năm và Nghêu có khối lượng 5,4g mỗi lần đẻ 400.000 trứng; Phương thức sinh sản của nghêu là phần sau của thân thò vòi lên mặt nước; Nghêu đẻ trứng phân theo đợt, thời gian cách nhau có khi là nửa tháng và có khi tới một tháng (Chu Chí Thiết, 2005) .

Tuyến sinh dục của Bivalvia thường phân tính, cũng có một số trường hợp lưỡng tính. Nghiên cứu của Appeldorn (1984) Ttrên đối tượng Mya arenaria (soft shell clam) từ 25 quần thể khác nhau cho thấy tỉ lệ đực là 48% và cái là 52%. Đối với Bivalvia thì nhìn hình dạng bên ngoài rất khó xác định được giới tính, chỉ có thể phân biệt được đực cái khi quan sát tuyến sinh dục của chúng. Khi thánh thục sinh dục tuyến sinh dục cái thường có màu vàng nhạt hay màu cam nhát; tuyến sinh dục đực có màu trắng đục.

Theo nghiên cứu của Vakily (1989) trên Vẹm Xanh (Perna viridis) cho thấy khi thành thục sinh dục con cái có tuyến sinh dục cái có màu vàng hay màu cam, con đực có màu trắng đục. Trong khi đó Sò huyết (Anadara granosa), khi thành thục con đực tuyến sinh dục có màu vàng nhạt, con cái có màu đỏ hồng (Broom, 1985). Tuy nhiên, quan sát bằng mắt thường chỉ có thể xác định giới tính nhưng không thể đánh giá mức độ thành thục, để đánh giá chính xác cần quan sát tế bào sinh dục (trứng và tinh trùng) và quan sát tiêu bản lát cắt (Quayle & Newkirk, 1989).

Khi nghiên cứu tiêu bản lát cắt trên đối tượng như Mytilus, Crassostrea, Pecten, Pinctada…Nguyễn Chính (1974), Imai (1977), Quayle & Newkirk (1989) và Gervis & Sims (1992) đều phân chia sự phát triển của tuyến sinh dục thành 5 giai đoạn (từ giai đoạn 0 đến giai đoạn 4) . Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục có thể tóm tắt như sau:

‹ Giai đoạn 0 (Không xác định)

Tuyến sinh dục không rõ ràng, chưa có sự hiện diện của nang follicule, ở giai đoạn này không xác định được giới tính. Mô leydig chiếm toàn bộ tuyến sinh dục.

Œ Giai đoạn 1 (Tiền giao tử)

Quá trình tạo giao tử bắt đầu với sự xuất hiện của các nang follicule chen lẫn trong các mô leydig. Tế bào sinh dục phát triển trên vách nang.

 Giai đoạn 2 (Phát triển tích cực, sắp chín)

Nang follicule phình to chiếm gần hết khối nội tạng, mô leydig giảm nhanh, các giao tử hình thành nhưng chưa chín. Noãn bào gia tăng kích thước và đạt giai đoạn chín.

Ž Giai đoạn 3 (Chín, sinh sản)

Nang tinh phồng lên và hầu hết chứa trứng và tinh trùng, vách nang mỏng dần, tuyến sinh dục ở trạng thái chín. Trứng sẵn sàng thụ tinh và tinh trùng có khả năng hoạt động.

 Giai đoạn 4 (Giai đoạn nghỉ)

Sau khi sinh sản, vách nang bị rách, bên trong còn sót lại một ít tinh trùng và trứng. Giai đoạn này mô sinh dục bị thay thế dần bởi mô leydig. Mùa vụ sinh sản của các loài Bivalvia có liên quan đến các yếu tố môi trường như: nồng độ muối, thủy triều, dòng chảy… đặc biệt biệt là nhiệt độ. Vùng ôn đới mùa sinh sản thường là mùa xuân. Trong thủy vực vùng ôn đới chu kỳ phát triển tuyến sinh dục theo sự gia tăng nhiệt độ vào mùa xuân, tuyến sinh dục hoàn toàn chín khhi nhiệt độ đạt đến ngưỡng sinh sản. Ở vùng nhiệt đới nồng độ muối biến động lớn, sự biến đổi này kích thích quá trình sinh sản. Bivalvia ở vùng nhiệt đới có mùa sinh sản kéo dài và kém tập trung hơn so với vùng ôn đới (Quayle & Newkirk, 1989).

Jayabal & Kalyani (1986) theo dõi chu kỳ sinh sản của 3 loài kinh tế: Meretrix meretrix (L.), M. casta ( Chemnitz ) và Katelysia opima (Gmelin) ở cửa sông Vellar (Ấn Độ). Kết quả cho thấy mùa sinh sản của 3 loài kể trên kéo dài từ tháng 2-9. Tỉ lệ con đực nhiều hơn con cái nhưng cả hai thành cùng thời gian và Ấu trùng Veliger xuất hiện từ tháng 3-5.

Khi thành thục sinh dục Bivalvia đẻ trứng và tinh trùng vào môi trường nước, sự thụ tinh xảy ra trong nước. Sự sinh sản có thể xảy ra một hoặc nhiều lần, thời gian có thể ngắn hoặc dài (một ngày hoặc nhiều tuần) tùy theo loài, độ chín của tuyến sinh dục và điều kiện môi trường (Quayle & Newkirk, 1989).

Nghiên cứu của Kalyanasumdaram & Ramamoorthi (1987) cho thấy trứng của Meretrix meretrix (L.) có đường kính khoảng 60-70 mm. Sau khi thụ tinh 15-20 phút cực cầu xuất hiện, phân chia thành 2 tế bào không đều nhau trong 1 giờ, lần phân chia thứ 2 và 3 cách nhau sau mỗi 10 phút. Sáu đến tám giờ sau thụ tinh, phôi phát triển thành ấu trùng Trochophore sống phù du và sau 10 giờ sau đó ấu trùng Trochophore phát triển thành ấu trùng dạng chữ D (straight-hinge stage), dài khoảng 80µm (cao 60µm) và chúng tiếp tục sinh trưởng 90-100µm. Vào ngày thứ năm đỉnh vỏ được hình thành trên đường bản lề (umbo stage) lúc này ấu trùng dài 110µm, ngày thứ 9 ấu trùng đạt 150µm. Ngày thứ 10 chân ấu trùng phát triển và hình thành ấu trùng Veliger dài 160µm (cao 140µm). Ngày thứ 12 ấu trùng Veliger biến thành ấu trùng bám (spat) và chuyển sang sống đáy. Trong quá trình biến thái, vòm miệng (velum) của ấu trùng bị thoái hóa, mang và chân phát triển hoàn thiện.

6. Nghêu – Sự xuất hiện Nghêu giống

Nghêu giống thường xuất hiện vào đầu mùa mưa, Nghêu cám (25.000 con/kg) thường xuất hiện vào tháng 5 – 6 đến tháng 9 – 10 Nghêu đạt cỡ giống. Nghêu giống thường xuất hiện trên các bãi như: Tân Thành, Thừa Đức, Thới Thuận, Vĩnh Hải, Hiệp Thành. Trong đó bãi Vĩnh Hải thuộc huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng có diện tích 96 ha với sinh lượng 38,52 g/m2 (Nguyễn Tác An và ctv., 1994).

Sự xuất hiện của Nghêu trên các bãi thường không đồng đều, có sự khác nhau lớn về sinh lượng giữa các bãi. Do sự xuất hiện của Nghêu giống thường không đều đặn và vị trí bãi giống cũng không cố định qua các năm, hơn nữa có một số bãi giống không được quản lý nên dẫn đến sự khác nhau về sinh lượng và thời điểm xuất hiện Nghêu giống. (Nguyễn Tác An và ctv., 1994). Theo kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999) nghêu giống thường xuất hiện vào thời điểm nhiệt độ và nồng độ muối giảm hàng năm (đầu mùa mưa).

7. Nghêu – Nghiên cứu về sinh sản nhân tạo và di truyền

Đây là lĩnh vực được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu thực nghiệm của Gibbons (1984) dùng serotonin 2 mM với liều lượng 0,4ml/cá thể để kích thích sáu loài; tiêm serotonin vào tuyến sinh dục để kích thích Argopecten irradians, Crassostrea virginica và Spisula solidissima và tiêm serotonin vào cơ khép vỏ trước để kích thích Aretica islandica, Geukensia demissa và Mercenaria mercenariaAretica islandica, Geukensia demissa và Mercenaria mercenaria, kết quả là tất cả chúng đều sinh sản sau 15 phút.

Alcazar et al., (1987) dùng serotonin kích thích Hippopus porcellanussinh sản. Ấu trùng phát triển và tập tính giống như những loài thuộc họ Tridacnidae. Tỉ lệ sống của ấu trùng 30 ngày tuổi là 0,76% tinh từ trứng thụ tinh.

Nhìn chung các nghiên cứu về sinh học của Bivalvia đa số tập trung vào sinh học sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống một số đối tượng kinh tế. Trong đó có một số công trình liên quan đến Meretrix meretrix, Meretrix lusoria và Meretrix casta. Ở Việt Nam chỉ có một vài nghiên cứu công trình nghiên cứu như của Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994) ở Trà Vinh về điều tra và đánh giá nguồn lợi hoặc một vài tác giả khác như của Nguyễn Hữu Phụng (1996) và Võ Sĩ Tuấn ctv., (1998).

Trương Quốc Phú (2001) nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh hóa và kỹ thuật nuôi Nghêu ( Meretrix lyrata) , thực hiện tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long chủ yếu tại bãi Tân Thành huyện Gò Công tỉnh Tiền Giang.

Nghiên cứu sản xuất giống Nghêu của Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II do Nguyễn Đình Hùng (2000) và các cộng sự thực hiện, kết quả cho thấy hiện tượng lưỡng tính ở Nghêu (Meretrix lyrata), Nghêu sinh sản hàng năm, mùa sinh sản chính từ tháng 5 đến tháng 7, mùa phụ từ tháng 11 đến giêng năm sau, với tỷ lệ đực cái trong tự nhiên là 1/1.

II. SƠ LƯỢC VỀ HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI NGHÊU Ở VIỆT NAM

1. Hiện trạng nghề nuôi nghêu ở Việt Nam

Sản phẩm nghêu Việt Nam được xuất sang hơn 10 nước và vùng lãnh thổ, thị trường lớn nhất là Nhật vì nghêu là thức ăn truyền thống của người Nhật. Bên cạnh đó các nước nhập khẩu được kể đến như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và nước có tiềm năng phát triển như Mỹ (Bộ Thủy Sản, 2006)

Nuôi nhuyễn thễ ven biển được bắt đầu sớm ở Việt Nam vì loài Meretrix lyrata có sẵn trong các bãi triều tự nhiên, hoạt động nuôi nghêu từ rất sớm khoảng năm 1970 ở Bến Tre sau đó chuyển sang Tiền Giang (1987) và ở Trà Vinh nghêu được nuôi vào năm 1995 (Bộ Thủy Sản, 2004). Nghêu Bến Tre còn được nuôi khá thành công ở Thái Bình và Nam Định (John Kleinen, 2003).

Theo Bộ Thủy Sản (2005) sản lượng nhuyễn thễ có thể đạt trên 114.570 tấn, trong đó ngao chiếm tỉ lệ hơn 90%. Nghêu được thả nuôi chủ yếu là nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) số còn lại là nghêu địa phương như nghêu dầu (Meretrix meretrix Linnd, 1758) và nghêu vân (Meretrix lusoria Roding, 1798) phân bố chủ yếu ở miền Bắc, đặc biệt là Nghệ An.

Theo Bộ Thủy Sản (2005) thì sản lượng nghêu năm 2001 xấp xỉ 100.000 tấn năm 2005 là 180.000 tấn và hướng đến năm 2010 là 380.000 tấn. Theo Bộ Thủy Sản (2004) thì cả nước diện tích nuôi là 12.417 ha cho sản lượng là 118.945 tấn, trong đó tỉnh ở Miền Bắc cho sản lượng cao nhất là Nam Định với 700 ha cho sản lượng khoảng 9.000 tấn và Bến Tre ở Miền Nam với 4.075 ha sản lượng thu hoạch khoảng 42.012 tấn, bên cạnh Bến Tre thì Trà Vinh có diện tích nuôi khoảng 1.000 ha cho sản lượng 5.000 tấn với năng suất bình quân 5 tấn/ha.

Diện tích nuôi nhuyễn thể có chiều hướng tăng từ 19.234 ha năm 1999 lên đến 26.254 ha năm 2005, đạt tốc độ tăng trung bình năm 5%/năm. Trong khi đó sản lượng đạt tốc độ tăng trung bình năm 9%/năm (62.969 tấn năm 1999 và năm 2005 đạt 114.570 tấn), trong khi khả năng cung cấp con giống nhân tạo còn hạn chế và nguồn lợi con giống tự nhiên ngày càng giảm (Hồ Công Hường, 2006).

Trong những năm qua, khai thác ven biển đặc biệt là nghề nuôi biển phát triển nhanh chóng đã đem lại công ăn việc làm góp phần cải thiện đời sống cộng đồng dân cư ven biển. Trong đó, nuôi nghêu được xem là điển hình và hiệu quả nhất trong các đối tượng nuôi nhuyễn thể ở vùng cửa sông ven biển ĐBSCL (Nguyễn Thanh Tùng, 2007). Đến năm 2006 đầu năm 2007, diện tích nuôi nghêu trên 20.000 ha với tổng sản lượng của nghêu ở toàn bộ khu vực Nam Bộ đạt khoảng 70 – 80 ngàn tấn/năm và đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu lớn (Lê Xuân Sinh, 2007).

2. Hiện trạng nghề nuôi nghêu ở Sóc Trăng

Nghêu không còn là loại thực phẩm bổ sung hàng ngày cho cư dân ven biển Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau nữa mà chúng trở thành mặt hàng xuất khẩu nhiều tiềm năng với tổng sản lượng xuất khẩu của 4 tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre và Kiên Giang là khoảng 200.000 tấn/năm. Thịt nghêu đông lạnh của Việt Nam năm 2002 đã tăng hơn 50% về sản lượng và hơn 63% về giá trị so với năm 1999 (Bộ Thủy Sản, 2006)

Nuôi thủy sản đóng vai trò chủ đạo trong chiến lược phát triển của tỉnh Sóc Trăng nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất và phát triển đa cây đa con thì nghêu được xem là đối tượng có tiềm năng nâng cao mức sống cộng đồng dân cư ven biển. Diện tích bãi bồi ven biển có thể sử dụng cho nuôi nghêu ở Sóc Trăng là rất lớn trãi dài từ cửa Định An đến giáp Bạc Liêu, điển hình là bãi Vĩnh Hải thuộc huyện Vĩnh Châu. Ngoài ra còn một số bãi khác xuất hiện ở khu vực Cồn 15 và Cồn Ấu với mật độ và sinh lượng đáng kể (Chi cục KTQL & BVNL Sóc Trăng, 2006).

3. Tình hình cung cấp và sản xuất giống

Theo quy hoạch trại giống cung cấp nghêu giống năm 2006 thì sẽ có khoảng 10 trại nghêu sản xuất với qui mô lớn vào năm 2010 (Bộ Thủy Sản, 2006). Nguồn nghêu cám ước khoảng 1.200 tấn/năm với nhiều kích cỡ giống (thường nhiều hơn 10.000 đến 20.000 con/kg) được mua và chuyển về ương ở một số tỉnh miền Bắc (Nam Định, Thái Bình), sau khi đạt kích cỡ nghêu giống sẽ được vận chuyển và bán lại hầu hết cho khu vực ven biển Nam Bộ (Lê Xuân Sinh, 2007). Cũng theo tác giả nguồn nghêu giống cung cấp tại chỗ chỉ đáp ứng khoảng 5-10% tổng nhu cầu về con giống cho nghề nuôi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s