Một số giải pháp cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Đầm trà Ổ

Một số giải pháp cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Đầm trà Ổ

Mùa mưa là mùa đánh bắt thủy sản chính trên đầm Trà Ổ (Phù Mỹ), đặc biệt là con chình mun, nhưng không được nhiều lắm. Ông Trương Văn Quý (thôn Châu Trúc, xã Mỹ Châu) người đánh bắt trên đầm cho biết, hiện nay mỗi đêm chỉ được vài ba con chình. Qua một vụ trong mùa mưa mỗi chủ trộ (đăng, sáo) cũng chỉ bắt được chừng vài ba chục kg chình. Còn thả dẹp, với 600 chiếc, mỗi đêm trung bình ông cũng chỉ thu được khoảng 1,5kg tôm đất, có khi chỉ 3-4 lạng.

Nguồn thủy sản suy giảm:

Người dân đánh bắt thủy sản quanh năm trên đầm. Nhiều người cho biết, nguồn lợi thủy sản ở đây suy giảm rất nhiều so với trước kia. Ông Trương Văn Quý kể rằng trước kia khi chưa có đập ngăn mặn Hòa Tân, chưa có xung điện, khi mùa mưa về, “gió quăn đọt tre” là lúc đánh bắt được rất nhiều, có trộ một đêm bắt đến trên 100 con chình lớn nhỏ. Trước có cá hồng, cá dìa, cá mú… nay thì không thấy. Ông Trương Quang Vũ (xã Mỹ Thắng): Trước đây mùa mưa có lúc “cá luối lách lên bờ dứa khô để đẻ, chó thấy sủa là dân đổ xô đến bắt”, nay hiện tượng này không còn.

Chình mun, chình bông có giá rất cao, hiện từ 250- 300 ngàn đồng/kg chình thương phẩm, 400 ngàn đồng/kg chình con (bán cho người nuôi). Tôm đất cũng 30-40 ngàn đồng/kg. Tôm đất và rạm (giống như cua) ở đầm này làm bún tôm, bún rạm rất ngon. Đây là món ăn truyền thống rất nổi tiếng của Phù Mỹ, hiện đã có mặt ở Quy Nhơn và một số nơi trong tỉnh.

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về các loài thủy sản, môi trường sinh thái, nuôi thử nghiệm cá chình… đầm Trà Ổ và khẳng định “Đây là một trong những đầm phá thể hiện những nét đặc trưng về một hệ sinh thái của vùng đất ngập nước ở khu vực miền Trung Việt Nam”. Ở đây có nguồn thức ăn, môi trường nước thuận lợi, “tạo điều kiện cho ấu trùng thủy, hải sản đến đây sinh sống và phát triển, là vườn ươm của các loài cá, tôm, cua, các loài nhuyễn thể…” Gần đây nhất, năm 2007 có đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý khai thác bảo vệ và phát triển thủy đặc sản đầm Trà Ổ” do Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Sở Thủy sản) thực hiện. Theo số liệu của đề tài này cho biết: Hiện nay có 943 hộ của 4 xã – Mỹ Châu, Mỹ Thắng, Mỹ Lợi, Mỹ Đức – khai thác thủy sản trên đầm này. Chủ yếu là bằng các loại nghề đánh bắt thủ công: đăng, nò, đáy, đó, dẹp, lưới… và cả xung điện.

Sản lượng khai thác tôm từ 1.000 – 1.200 tấn/năm, cá 780 – 1.100 tấn/năm. Tuy vậy nếu so năm 2006 với năm 2000 thì sản lượng đánh bắt hàng ngày suy giảm rất nhiều. Cụ thể sản lượng chình của nghề đăng sáo giảm 90%, sản lượng cá của nghề lưới giảm 50%, tôm của nghề dẹp giảm 84%. Bên cạnh đó có 182 hộ đánh bắt bằng phương tiện xung điện, làm hủy diệt nguồn lợi thủy sản ở đây.

Những người thực hiện đề tài cho rằng nguồn lợi giảm là do đánh bắt bằng xung điện chưa được ngăn chặn, vùng đánh bắt chưa được quy hoạch, đánh bắt bằng lưới mắt nhỏ (lưới 1 – lỗ lưới chỉ bằng 1cm. Theo quy định phải từ 2cm trở lên). Tuy vậy nhiều người dân ở đây và một số các nhà khoa học cho rằng, nguyên nhân chính là do đập ngăn mặn và xung điện. Từ khi có đập ngăn mặn Hòa Tân nước trong đầm và biển chỉ được giao lưu vài ba tháng mùa mưa, nên các loài thủy sản nước lợ: cá hồng, cá mú, cá dìa, tôm sú, tôm he, ghẹ… nhất là chình mun ít có điều kiện vào đầm, nên dần bị cạn kiệt. Đặc biệt là con chình mun, khi đẻ thì ra ngoài biển xa, chình con sau đó tìm về lại đầm và lớn lên tại đây. Khi trưởng thành cũng lập lại chu kỳ như cha mẹ chúng. Trong tỉnh chình mun chỉ có ở đầm Trà Ổ. Nếu nói trong phạm vi cả nước thì cũng chỉ một ít nơi có mà thôi. Chình mun cũng được thế giới liệt vào loài thủy sản quý hiếm có tên trong danh mục các loài được bảo vệ.

Giải pháp bảo vệ từ cộng đồng:

Để vận động nhân dân khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản của đầm, những người thực hiện đề tài xây dựng quy chế quản lý bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (NLTS) đầm Trà Ổ. Trên cơ sở thảo luận góp ý của nhân dân trong vùng khai thác, quy chế đã được UBND huyện Phù Mỹ ra Quyết định ban hành và được phổ biến cho người khai thác đánh bắt. Theo quy chế thì không được phép dùng xung điện, nghề cấm, lưới mắt nhỏ để khai thác; các đê, đập phải xây “bậc cá”, “thang cá” để cá ra vào; mỗi người đánh bắt trên đầm – tùy nghề – hàng năm góp từ 50 – 200 ngàn đồng để mua cá thả vào đầm nhằm tái tạo nguồn lợi. Ông Nguyễn Hữu Hào- Chủ nhiệm đề tài: Góp tiền để tái tạo nguồn lợi, tuy ít nhưng có đóng góp mới nâng cao trách nhiệm, cũng là phù hợp với chủ trương chung, Chính phủ cho phép gây quỹ để tái tạo lại nguồn lợi thủy sản. Lâu dài và căn bản là sẽ kêu gọi các nhà tài trợ, các dự án bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi thủy sản… trong nước và quốc tế hỗ trợ để tái tạo NLTS cho đầm Trà Ổ.

Đề tài cũng thành lập Hội đồng liên xã (4 xã). Mỗi xã có nhóm hạt nhân (từ 8-12 người) và đều có người đứng đầu có trách nhiệm, có quy chế hoạt động cụ thể. Mục đích là quản lý cộng đồng phát hiện đối tượng dùng nghề cấm, khai thác theo lối hủy diệt để thuyết phục họ bỏ nghề. Đây cũng là quy ước chung của cộng đồng để bảo vệ nguồn lợi trong đầm khỏi cạn kiệt, để nuôi sống dân quanh đầm. Ông Trương Quang Vũ – Chủ tịch Hội đồng liên xã: Nguồn thủy sản ở đầm là nguồn sống của dân ở đây, nên họ đồng tình với quy chế, không chấp nhận người dùng xung điện để đánh bắt. Đã có 558/943 hộ đăng ký khai thác và cam kết không sử dụng nghề cấm. Hội đồng sẽ thường xuyên nắm bắt tình hình, vận động nhân dân phát hiện nghề cấm để kịp thời chấn chỉnh. Nếu vận động mà không bỏ sẽ phục bắt quả tang để đề nghị chính quyền can thiệp.

Hiện nay đầm Trà Ổ có thêm loại cá bống tượng sinh sản phát triển nhanh trong đầm (sổng ra từ ao nuôi). Như vậy môi sinh ở đây rất thích hợp cho loài cá xuất khẩu giá cao này phát triển. Những người thực hiện đề tài tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn dân ở đây nuôi loại cá này và con cá chình (3 loại: chình mun, chình bông và chình nhọn) trong đầm.

Việc tổ chức cho cộng đồng bảo vệ khai thác hợp lý NLTS đầm Trà Ổ và nuôi các loài cá có giá trị kinh tế cao là việc làm cần thiết để giải quyết công ăn việc làm, thu nhập cho khá nhiều người dân ven đầm. Tuy vậy mô hình cộng đồng có thành công hay không còn phụ thuộc vào ý thức của người khai thác trên đầm.

Có người cho rằng nếu đầm không lưu thông được với biển thường xuyên thì liệu những loài như chình mun, các loài cá nước lợ quý giá khác có còn ở đầm này không. Bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ NLTS nhưng khi nguồn lợi không còn thì bảo vệ cũng vô nghĩa. Cần có nghiên cứu của các nhà khoa học và nhà quản lý để có giải pháp duy trì và phát triển nguồn lợi trên đầm.

HOÀNG LÂN – THU HOÀ

20 responses to “Một số giải pháp cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Đầm trà Ổ

  1. Pingback: Bình Định: Chình mun đầm Trà Ổ ngày càng cạn kiệt | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  2. Pingback: Quy trình kỹ thuật nuôi cá chình | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  3. Pingback: Giải cứu loài chình mun Châu Trúc | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  4. Pingback: Kỹ thuật nuôi cá chình trong bể xi măng | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  5. Pingback: Chình mun | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  6. Pingback: Sinh học cá chình | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  7. Pingback: Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  8. Pingback: Con chình mun ở đầm Châu Trúc/ Cẩm Tú | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  9. Pingback: Nuôi thực nghiệm cá Chình bông trên địa bàn huyện Tân Hưng tỉnh Long An | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  10. Pingback: Cá chình bông – Marbled eel | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  11. Pingback: Cá chình – Ell | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  12. Pingback: Dẫn liệu về các loài cá chình | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  13. Pingback: Cà Mau: Thiếu trầm trọng nguồn giống cá chình | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  14. Pingback: Nhiều hộ dân ở Cà Mau đổi đời nhờ nuôi cá chình | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  15. Pingback: Phú Yên: Cá chình giống dày đặc trên sông | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  16. Pingback: “Vua” cá chình Bạc Liêu | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  17. Pingback: Kỹ thuật ương giống cá chình | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  18. Pingback: Cá chình Nhật Bản – Anguilla japonica | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  19. Pingback: Cá chình hoa – Anguilla marmorata | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

  20. Pingback: Thành tỷ phú nhờ nuôi cá chình | Thương mại, Kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s